Hãy chân thành và rộng mở tấm lòng, bạn sẽ nhận biết giá trị đích thực của cuộc sống.
Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010
Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010
Cô đơn
Đã bao lần ta đi giữa mưa.
Giữa trời đầy gió.
Mang theo nỗi cô đơn
Đôi tay buồn
Trơn ướt giọt mưa trôi xuôi theo kẽ
Ta với ta ở giữa gió mưa.
Đã bao lần ta qua phố xa
Những miền đất lạ
Rao bán nỗi cô đơn
Mòn mõi đợi
Lặng ngắt phố phường, người xuôi hờ hững
Ai chẳng mang riêng nỗi cô đơn.
Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010
Tranh đá Bảy Núi
Đi sớmkhổ 30 cm x 40 cm
Về tổkhổ 30 cm x 40 cm
Thuyền trăng 1khổ 30 cm x 40 cm
Thuyền trăng 2khổ 30 cm x 40 cm
Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010
TRIỂN LÃM THƯ PHÁP VÀ TRANH ĐÁ CỦA PHAN VÕ HOÀNG NAM - ĐÔI ĐIỀU GHI NHẬN
TRIỂN LÃM THƯ PHÁP VÀ TRANH ĐÁ CỦA PHAN VÕ HOÀNG NAM - ĐÔI ĐIỀU GHI NHẬN - Quang Nguyễn
| |
| Phan Võ Hoàng Nam (bên trái) tại triển lãm mỹ thuật Châu Phú 2010 |
Ngoài tranh đá, nghệ thuật viết thư pháp cũng là thú đam mê đã gợi cho anh cảm hứng sáng tạo nên những câu chữ thư pháp với một bút nét cũng rất riêng tư... Có thể xem đây là tín hiệu dự báo một khả năng sáng tạo nghệ thuật rất đáng trân trọng và đáng mừng cho phong trào văn nghệ Châu Phú tương lai.
Người hội viên ấy là Nguyễn Hoàng Nam – giáo viên âm nhạc Trường trung học cơ sở Cái Dầu - Châu Phú- An Giang. Hội viên Hội VHNT huyện Châu Phú, hội viên Phân hội Văn học, Phân hội Âm nhạc - Hội VHNT tỉnh An Giang. Hoạt động nghệ thuật ký bút danh: Phan Võ Hoàng Nam, Nguyễn Hoàng Nam,Võ Hoàng. Anh là tác giả của ba mươi bốn bức tranh đá cùng ba mươi ba bức thư pháp, trưng bày tại đợt triển lãm mỹ thuật chào mừng 35 năm ngày thống nhất đất nước - 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Hội VHNT huyện Châu Phú tổ chức tại Nhà hàng Hoa Miền Quê - thị trấn Cái Dầu vào những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 2010 vừa qua. Triển lãm góp một phần nhỏ vào đời sống sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Châu Phú thêm hương, thêm vị. Hương vị ấy , nói như danh họa Amedeo Modigliani “ là chất men say thăng hoa nghệ thuật nhằm giữ cái đẹp vĩnh cửu với thời gian” .
![]()
Đàn bà 5Hôm khai mạc triển lãm Thư pháp và Tranh đá của Phan Võ Hoàng Nam, đông đảo bạn bè, thầy cô giáo, anh chị em văn nghệ ở Châu Phú, Châu Đốc, Long Xuyên, Phú Tân , thậm chí xa xôi từ Thành phố Hồ Chí Minh. Họa sĩ Lê Thủy - thành viên nhóm họa sĩ An Bình -Quận 5 cũng tận tình đến chia sẻ niềm vui và chúc mừng tác giả Phan Võ Hoàng Nam lần đầu tiên tổ chức triển lãm cá nhân khá “ấn tượng”.
Lễ khai mạc diễn ra ấm cúng, chân tình đậm chất văn nghệ. Triển lãm hân hạnh đón tiếp nhà thơ Trịnh Bửu Hoài - Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật An Giang, nhà văn Mai Bửu Minh - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật An Giang, họa sĩ Quang Vinh -Phân hội Mỹ thuật - Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật An Giang. Ngoài ra còn có đại diện báo Tuổi Trẻ cùng đại biểu các ban ngành huyện đến tham dự bằng tình cảm và tấm lòng dành cho tác giả Hoàng Nam. Trong không khí này, tôi lại nhớ đến buổi khai mạc triển lãm tranh tràm của họa sĩ Quốc Mỹ cũng tại thị trấn Cái Dầu cách nay bảy, tám năm. Năm 2002 triển lãm tranh tràm của “Lão họa sĩ ” Quốc Mỹ là triển lãm mỹ thuật đầu tiên ở Châu Phú. Năm nay 2010 triển lãm tranh đá của Hoàng Nam là lần triển lãm mỹ thuật thứ hai của giới nghệ sĩ tạo hình địa phương sau 35 năm đất nước hòa bình, thống nhất. Buổi khai mạc triển lãm tranh tràm của họa sĩ Quốc Mỹ năm ấy không có nhiều người dự vì chiều hôm khai mạc trời lại đổ mưa nên phòng triển lãm của ông vốn bố trí ở nơi vắng người qua lại, lúc ấy càng ít có khách tham quan. Họa sĩ Quốc Mỹ cũng như Hoàng Nam bây giờ lúc nào cũng ấp ủ được giới thiệu những tác phẩm “tâm huyết” của mình tới công chúng .Và dù gặp không ít khó khăn (ngoài sự quan tâm hỗ trợ của Hội VHNT trong công tác tổ chức, còn thì mọi nhu cầu khác đáp ứng cho triển lãm, họa sĩ “tự thân vận động”) cuối cùng ông cũng có được một phòng triển lãm tranh cho riêng mình trong cuộc đời làm nghệ thuật ở Châu Phú. Triển lãm mỹ thuật năm ấy, tôi nhớ mãi lời tâm sự của họa sĩ tranh tràm Quốc Mỹ khi ông đang lặng lẽ nhìn những bức tranh máu thịt của ông trước giờ khai mạc. Ông hóm hỉnh: “Triển lãm nhỏ như cái lỗ mũi (cười)... nhưng dù lớn nhỏ thế nào cũng là triển lãm của mình. Vậy mà tôi thích...”. Có lẽ chính từ niềm yêu thích da diết cái đẹp, cái thiện, cái chân ấy mà những tác phẩm tranh tràm: "Trường Sơn vẫy gọi" - Giải nhì cuộc thi tranh nghệ thuật An Giang. "Phố cũ Cái Dầu" -giải nhì kỷ niệm 115 ngày sinh Bác Tôn. "Xẻ núi làm đường", "Áo dài" , "Chiếc giày" ... của họa sĩ Quốc Mỹ chẳng những đi vào lòng người, còn ít nhiều đóng góp vào hoạt động sáng tác mỹ thuật ở An Giang nói riêng, vùng sông nước Cửu Long nói chung. Bây giờ khi ông đã về cõi vĩnh hằng, mỹ thuật Châu Phú mất đi một tài năng ! Sau ông , Châu Phú có một Phan Võ Hoàng Nam , một Hà Thanh ( thể loại tranh tràm - học trò họa sĩ Quốc Mỹ ), một Mai Hoàng Bảo Trân (Học sinh Trường Trung học Trần Văn Thành - Châu Phú – tự ghép vỏ tràm thành bức tranh “Con mèo” đăng trên Văn nghệ Châu Phú - năm 2003 ) tiếp tục tôn vinh cái đẹp cuộc sống bằng nghệ thuật tạo hình, nghĩ cũng là điều đáng trân trọng.
Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài - Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật An Giang phát biểu chúc mừng hôm khai mạc triển lãm mỹ thuật Châu Phú lần II năm 2010 , không chỉ ghi nhận những đóng góp nhiệt tình của Phan Võ Hoàng Nam đối với phong trào văn nghệ Châu Phú như tham gia nhiều bộ môn : Âm nhạc (giảng dạy, sáng tác, biểu diễn), văn học (viết bài, làm thơ) . Anh còn trân trọng ý chí, tấm lòng dành cho nghệ thuật trong đó: nghệ thuật thư pháp và tranh đá là nét nổi bật của Phan Võ Hoàng Nam. Tác giả thơ tình - Trịnh Bửu Hoài - có vẻ rất “chịu” các bức thư pháp trưng bày tại triển lãm. Những bức thư pháp ấy theo anh có bút pháp rất riêng tư, rất... thư pháp.
Nghe nói, thư pháp là thú chơi tao nhã của người Trung Quốc, là nghệ thuật viết chữ bằng các dụng cụ văn phòng tứ bảo gồm: bút, nghiên, giấy, mực. “Học tập thư pháp khả dĩ tu thân...” (học tập thư pháp có thể tu thân dưỡng tính, uốn nắn tình cảm) còn là quan niệm lâu đời của người Trung Hoa. Với quan niệm này, người Trung Quốc xem thư pháp cũng là Đạo . Nói đến thư pháp là nói đến khổ luyện. Thư gia Trương Chi đời Đông Hán mỗi ngày luyện viết thư pháp xong thì rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc). Thuật ngữ “Lâm Trì “ bắt nguồn từ đó. Giới nghệ thuật Trung Quốc tổng kết , các đại thư gia thường phải mất vài chục năm “Lâm Trì” mới thành danh. Lịch sử phát triển thư pháp đồng thời với lịch sử phát triển chữ Hán. Vương Hi Chi (đời Tấn) đã bỏ ra 15 năm luyện chữ, bắt đầu từ chữ vĩnh (mãi mãi). Chữ Vĩnh bao quát tám nét cơ bản của chữ Hán gọi là vĩnh tự bát pháp là nền tảng của nghệ thuật viết thư pháp. Vĩnh tự bát pháp chính thức được nghiên cứu có qui củ từ nhà sư Thích Trí Vĩnh (đời Tuỳ ). Vị cháu bảy đời này của Vương Hi Chi là một tấm gương khổ luyện thư pháp “vô tiền khoáng hậu”. Ông tu ở chùa Vĩnh Hân , huyện Ngô Hưng. Ông lên lầu chùa rồi giam mình trên đó suốt 40 năm để khổ luyện thư pháp. Luyện đến mức bút mòn vất thành gò đống. Vương Hiến Chi , thuở nhỏ luyện chữ thư pháp đã gánh nước đổ đầy 18 chum để làm nước mài mực,nhờ thế mà thành danh. Hai thư gia Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi được thiên hạ xưng tụng là Thảo thánh nhị Vương . Chữ “Thảo” của họ trở thành khuôn mẫu thư pháp từ đời Tấn đến nay. Trong “nghề chơi” thư pháp,các thư gia thường mỗi người “chuyên trị” một thư thể được gọi là thư gia hoặc họa gia, nhưng hiếm có người vừa là thư gia vừa là họa gia thành công nhất định. Ở nước ta, thế hệ nhà Nho tiền bối có rất nhiều vị viết thư pháp nổi tiếng như Phan Thanh Giản, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Long Cát vv, nhưng cũng chỉ sở trường một thư thể. Mới thấy, thư pháp là một môn nghệ thuật đòi hỏi công phu khổ luyện,tâm tĩnh như thiền mới có thể gởi hồn, phóng bút biến câu chữ thành tác phẩm thư pháp nghệ thuật đủ sức thuyết phục. Thưởng thức thư pháp của Phan Võ Hoàng Nam, với thế bút sắc mảnh mà câu chữ vẫn toát lên cái mạnh mẽ và phóng khoáng , có người liên tưởng đến nhà thư họa, danh họa đời Đường - Trung Hoa - Hàn Cán. Ông đã sáng tạo ra thể chữ “ Sấu kim thể ” mảnh mai có sức lay động không kém gì những bức tranh vẽ ngựa nổi tiếng của ông , bức “Mục mã đồ ” bức “ Ngựa trắng ban đêm ” được người Trung Quốc ca tụng. Bởi ,ông là một trong những danh họa từng được Vua Đường Huyền Tông - Lý Long Cơ (712-756) “ thuê” vào cung chỉ để vẽ thư pháp và vẽ tranh chuyên một đề tài : NGỰA. Hiện hai bức tranh ngựa nổi tiếng trên được lưu giữ tại bảo tàng New York ( Hoa Kỳ).
Ghi nhận tiếp theo, mừng cho Phan Võ Hoàng Nam lần đầu tiên tham gia triển lãm mỹ thuật – dù triển lãm tổ chức ở địa phương, phạm vi nông thôn cấp huyện - vẫn thu hút sự quan tâm của công chúng. Trong đó, cảm động nhất là được lắng nghe và tiếp nhận những ý kiến đóng góp trực tiếp, chân tình xuất phát từ tấm lòng dành cho nghệ thuật của anh chị em văn nghệ sĩ trong, ngoài tỉnh. Họa sĩ Quang Vinh - Phân hội Mỹ thuật - Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật An Giang ngồi bên tôi sau buổi khai mạc đã nhận xét về triển lãm của Hoàng Nam, Anh thủng thẳng nói : “ Trong nghệ thuật, không miệt mài sáng tạo thì sẽ không có tác phẩm. Lao động nghệ thuật là lao động kiên trì, cần mẫn. Cùng với năng khiếu, sự kiên trì cần mẫn thể hiện qua các tác phẩm tranh, thư pháp của Hoàng Nam thật đáng quí, đáng trân trọng khuyến khích ”. Nhà văn Võ Diệu Thanh, tác giả tập truyện ngắn “Lời thề đá” của Văn nghệ An Giang với nụ cười luôn tươi trên môi, sau một vòng “ngắm ngắm, nghía nghía” các tác phẩm của Phan Võ Hòang Nam “phán” ngay một nhận xét: “Ông Nam “ổng” làm tranh thật lạ mà cũng thật ‘tốc độ”. Không học hội họa chính qui. Với năng khiếu và lòng đam mê , trong vòng một năm “làm” ra hơn 60 bức vừa tranh vừa thư pháp, thì thiệt ... “ bái phục ”. Võ Diệu Thanh ngoài viết văn chị còn là một nhà giáo dạy môn mỹ thuật trong ngành giáo dục Phú Tân. Tiếp lời Võ Diệu Thanh, nhà giáo , nhà thơ Thảo Vy cũng không kém ngạc nhiên về những bức thư pháp và tranh đá của đồng nghiệp Hoàng Nam . Trước giờ khai mạc, tôi thấy chị đứng ngắm bức “Áo dài ” ...rất lâu, rồi tới bức “ Trăng ” cũng “hơi lâu” không biết nhà thơ Thảo Vy “bắt gặp” điều gì đó ở hai bức tranh này ? Với nhà sưu khảo Nguyễn Hữu Hiệp - khi nói chuyện về tranh đá của PhanVõ Hoàng Nam - anh góp ý : “ Sao không làm phác họa trên nền đá thay vì trên nền cactông ? Thậm chí khuôn tranh cũng bằng đá luôn , tất cả đều bằng đá. Vậy nó mới bền lâu với thời gian...” . Còn soạn giả cải lương Diệp Hoài Lâm thì chân tình gởi tác giả Hoàng Nam mảnh giấy đề nghị cần “đặt tên” lại cho một số bức tranh...vv. Nhà giáo Trần Ngọc Hùng – cựu giáo viên dạy Văn hơn 40 năm ở Châu Phú, cũng là người thầy kính yêu của Phan Võ Hoàng Nam, của tôi, của những học trò thế hệ sau 1975 được thầy dạy dỗ và thẩm thấu cho cái hay, cái đẹp của cuộc đời qua văn chương, nghệ thuật. Hôm đến dự triển lãm đi cùng nhà giáo Đặng Như Nguyện, ông nói với tôi: “ Thầy chưa hiểu Hoàng Nam thổi hồn vào đá hay trong đá vốn đã tự có hồn nay được Hoàng Nam cảm nhận, rồi sáng tạo thành tranh không nữa ? Nhưng thầy rất “chịu” Hoàng Nam ở tâm hồn , ở niềm đam mê nghệ thuật...” . Thầy cũng chính là người mang các quyển sách về nghệ thuật thư pháp cho Nam tham khảo trong những ngày đầu tiên Nam đến với đam mê này. Họa sĩ Lê Thủy - thành viên Nhóm họa sĩ An Bình -Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên ngành thiết kế thời trang khoa Mỹ thuật công nghiệp Đại học Quốc tế Hồng Bàng mê vẽ tranh sơn dầu, có phòng tranh riêng tại Quận 5. Có tranh tham gia triển lãm gây quỹ từ thiện EXHIBITION FOR CHARITY FUND , có triển lãm cá nhân tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng cảm với niềm đam mê sáng tạo của Phan Võ Hoàng Nam đã nhiệt tình đến dự buổi khai mạc dù phải vượt đoạn đường hàng trăm cây số. Lê Thủy tự sự :
“ Tranh của anh Nam đơn giản nhưng có chiều sâu, nhất là đối với tranh chân dung và tranh Nude. Anh đã diễn tả được nội tâm nhân vật. Điều đáng quí là anh đã dám sử dụng một chất liệu hoàn toàn mới để làm tranh và đi theo hướng riêng của mình. Thủy tin rằng anh Nam sẽ gặt hái được thành công ”.
Trong một lần tình cờ xem chương trình truyền hình HTV9 tôi có dịp thưởng thức các bức tranh sơn dầu: “Vòng xoáy cuộc đời ” , ”Số phận” , “ Thời đã xa ” của họa sĩ Lê Thủy cùng một số tác phẩm sơn dầu của nhóm họa sĩ An Bình : Dương Lan Hương, Đặng Ngọc Hà, Hoàng Hồng Vân, Thái Ngọc Nhi do Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu... Họ không phải là những họa sĩ nổi tiếng nhưng lòng đam mê nghệ thuật và với mục đích làm nghệ thuật phục vụ từ thiện, tranh của họ được mời tham gia triển lãm ở đất nước “ Cờ hoa”. Bây giờ tôi mới có dịp tiếp xúc và nghe nhận xét của cây cọ Lê Thủy về tranh đá của Phan Võ Hoàng Nam.
Ghi nhận thứ ba là sau triển lãm, các báo Cần Thơ, Tuổi Trẻ lần lượt có bài giới thiệu về sáng tác tranh đá - thư pháp của Phan Võ Hoàng Nam. Phóng viên Minh Tâm báo Tuổi Trẻ trong bài “ Đá cuội cũng thành tranh” đăng cuối tháng 6 năm 2010 viết : “ 45 tuổi, chưa từng qua trường lớp hội họa, nhưng thầy giáo dạy nhạc Phan Võ Hoàng Nam (ấp Vĩnh Thành thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang) đã có riêng một triển lãm tranh khá độc đáo, với chất liệu sáng tác là... đá cuội. Từ đôi bàn tay khéo léo của ông, đá cuội đã trở thành hình ảnh làng mạc, thôn xóm, dãy Thất Sơn hùng vĩ cao chót vót giữa mây trời vùng biên viễn, hay cảnh rừng tràm Trà Sư rộn ràng tiếng chim lúc buổi sớm, hoặc những chiếc xuồng ba lá dập dềnh sông nước Cửu Long, những thôn nữ duyên dáng trong chiếc áo bà ba hái những chùm bông điên điển...”
Cùng với tranh phong cảnh thì tranh chân dung và tranh khỏa thân nghệ thuật là hai thể loại PhanVõ Hoàng Nam ấp ủ ,say mê thể hiện. Trong đó, khỏa thân là đề tài anh tâm đắc, đeo mang. Anh dự định sắp tới sẽ hoàn thành một bộ tranh gồm ba mươi bức “Nuy” chủ yếu diễn đạt thế giới nội tâm cùng thân phận “ đàn bà ” dưới góc nhìn của nghệ thuật khỏa thân. Bằng việc sử dụng bột đá làm chất liệu sáng tác rồi kết dính chúng thành từng mảng, từng khối màu với sắc độ đậm nhạt khác nhau và trung thành với gam màu đen trắng , sau đó xử lý độ sáng tối, xa gần, nhằm thể hiện “ ra” các hiệu ứng hình ảnh mong muốn để thành một bức tranh hoàn chỉnh. Có thể nói là một quá trình lao động sáng tạo, miệt mài, kiên nhẫn âm ỉ từ niềm say mê và yêu cái đẹp của PhanVõ Hoàng Nam.
Và... có lẽ thẩm định về cái đẹp cái hồn trong hội họa, trong tạo hình nói chung, tranh đá nói riêng trước nhất xin dành cho người thưởng thức, kế tiếp là giới cầm cọ giới tạo hình . Thêm nữa, thì đó là công việc của những nhà phê bình chuyên nghiệp. Bàn về vấn đề này, tại Hội thảo về Mỹ thuật Việt Nam Đương Đại và Hiện Đại tổ chức ở Viện bảo tàng Mỹ thuật Singapore năm 2008 họa sĩ Trịnh Cung khẳng định : “ Ngôn ngữ hội hoạ trong giá vẽ không là ngôn ngữ của đám đông, và nghệ sĩ tạo hình rất khác với nhà văn. Nhà văn có ảnh hưởng nhiều đến đám đông và thường vác lên mình nhiệm vụ phê phán, đấu tranh và cải tạo xã hội; còn hoạ sĩ, với cái ngôn ngữ câm lặng của hội hoạ thì không thể nói tràng giang đại hải một cách trực tiếp và cụ thể như nhà văn được. Vì thế, hoạ sĩ là những kẻ lang thang trong những khu rừng cảm xúc ”. Nhìn chung, mỗi thời đại, riêng đối với mỹ thuật, các tiêu chuẩn của cái đẹp trước hết được định ra bởi những nhà sáng tạo. Các hoạ sĩ cổ điển thời tiền phục hưng cho đến các hoạ sĩ thời tân cổ điển thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 đã thiết lập và giữ vững các tiêu chuẩn của cái đẹp dựa vào sự cân đối, hài hoà, nhịp nhàng và chặt chẽ về bố cục, màu sắc, đường nét, ánh sáng bằng một bút pháp tinh tế và nắn nót. Đầu thế kỷ 20, các nhà tiên phong thời hiện đại đã phủ lên những tiêu chuẩn ấy một “tấm vải liệm” bằng những khái niệm hoàn toàn mới về cái đẹp của những tác phẩm mỹ thuật. Lại thấy, cái đẹp luôn luôn có những tiêu chuẩn khác nhau của nó, tuỳ vào từng thời đại mà nó được tạo ra. Cái đẹp là một khái niệm mở và biến hoá không ngừng trong nghệ thuật nói riêng trong đời sống nói chung. Vì thế, sự bắt chước rập khuôn, tuân theo những nguyên tắc của người đi trước để làm công việc sáng tạo và thẩm định giá trị tác phẩm hôm nay, là dấu hiệu tiêu vong của nghệ thuật.Những sự phá vỡ phép cân đối, luật viễn cận, không gian hai chiều và tính hoà hợp của màu, xuất phát từ trường phái Ấn tượng đến Trừu tượng thật sự là một “cuộc cách mạng” làm thay đổi lớn lao các tiêu chuẩn của cái đẹp trong tác phẩm mỹ thuật, đang là cách nhìn mới của giới tạo hình hiện nay.
Ghi nhận cuối cùng để kết thúc bài viết này, xin được trích nhận xét của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang, về tranh đá của Phan Võ Hoàng Nam đăng trên báo Tuổi Trẻ tháng 6-2010 : “Anh Nam là người đầu tiên của đồng bằng sông Cửu Long dùng đá cuội làm chất liệu sáng tác. Tranh của anh khiến người ta hồi tưởng về ký ức vùng quê An Giang nói riêng và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Từ đây An Giang có thêm một loại sản phẩm nghệ thuật độc đáo góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn hóa quê hương”.
Q.N (An Giang)
Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010
Hành trình xuyên việt 5 (tiếp theo)
Phần 3
Chập chùng dốc núi

Con đường ở phía trước càng lúc càng quanh co uốn lượn. Anh tài xế cho xe chậm chậm bám lấy mặt đường thận trọng ôm sát vách núi. Thỉnh thoảng trên đường chúng tôi bắt gặp một vài căn nhà cất ven đường, còn lại thì chỉ là rừng núi mênh mông. Ở một khúc quanh, hai chú bé đang chơi lắm lem đất cát, chợt đứng dậy vẫy tay chào khi xe chúng tôi đi qua. So với trẻ em miền xuôi, trẻ em ở đây chịu nhiều thiệt thòi. Chẳng có gì để chơi ! Nhưng như thế cũng hoá hay, bọn chúng sẽ sống thanh thản hơn khi càng ít biết trò đời. Chiếc xe vẫn chậm chạp bám theo con đường dốc quanh co. Tôi thầm nghĩ dại, ở độ cao này giữa chốn núi rừng, nếu chiếc xe có sự cố không tiếp tục đi được, cả đoàn người thế này giải quyết sao đây. Thật ra anh Hoài cũng chưa dám đặt phòng ở Bắc Hà cho đoàn. Chỉ hơn bảy chục km thôi, ở dưới đồng bằng vù hơn một tiếng là xong. Còn với địa hình này, khó mà nói trước điều gì. Biết đâu phải nghỉ lại ở đâu đó trên lưng chừng vách núi. Điều chúng tôi cảm thấy an tâm là sự có mặt của nhà thơ Pờ Sảo Mìn. Ông là người địa phương, nên chuyện ứng cứu cũng sẽ dễ dàng hơn.
Xe qua khỏi cầu sông Mã, chúng tôi thật sự mới thấy con đường thật lắm gian truân. Đoạn đường từ đây đến Si Ma Cai có khoảng mười km chưa được trải nhựa, mặt đường lồi lõm đá với bao là ổ gà ổ voi. Chiếc xe lắc lư từng chút một, thận trọng leo đèo. Con đường gồ ghề làm mọi người trên xe lắc lư, nghiên ngã theo nhịp của xe. Tôi chợt nhớ đến đèo Đá ở rừng Cravanh những ngày làm nghĩa vụ quốc tế trên đất Kampuchia. Đèo Đá không dài lắm, nhưng đó là con đường chiến lược do công binh mở để vận chuyển hậu cần vào rừng. Không rộng lại cao, nên đường vượt qua đèo thật gấp khúc hiểm trở. Mặt đường thì hởi ôi rồi. Đường quân sự mà, phá đá, bạt núi để xe có thể vận chuyển hàng hoá cho mặt trận. So với đèo Đá ngày ấy thì đường đèo hôm nay chẳng ăn thua gì. Những chiếc xe quân sự như Gaz 66 có hai cầu, và Zin 131 với ba cầu và có khả năng tự tời khi có sự cố, vậy mà khi lên đèo đã phải gầm rú leo từng bậc, từng bậc. Đứng phía dưới nhìn lên chiếc xe giống như một con bọ hung bị say rượu đang chếnh choáng leo lên sườn núi. Vậy mà cũng gần hai lăm năm rồi. Hồi ấy tuổi trẻ hừng hực, ngồi trên xe qua đèo xá gì đồi dốc. Còn bây giờ nhìn con đèo mỗi lúc một khó khăn hơn cũng thấy ngán trong lòng. Một chuyến đi thực tế đầy cảm giác. Đường quá xấu nên chiếc xe tiến lên một cách chậm chạm. Có những đoạn anh bạn nhà văn trẻ Trương Chí Hùng phải nhảy xuống đi phía trước dẫn đường. Đở một điều là trên xe không ai bị say xe hay nôn ói, kể cả nhà văn nữ trẻ Đào Uyên đang mang bầu hai tháng. Có lẽ trong hành trình xuyên việt lần này, ấn tượng để lại trong tôi sâu sắc nhất chính là chuyến đi Tây Bắc này. Thiên nhiên, con người như hoà vào nhau, tạo nên một nét riêng tư của chốn núi rừng. Tôi bắt gặp ở đây những con người trọng nghĩa hơn tài, cũng hào sảng, cũng mộc mạc mà cũng chân tình như dân miền Tây nam bộ. Có đi mới biết đường dài hay ngắn. Chuyến đi này tôi đã thu thập được rất nhiều thứ. Đọc nhiều rồi, bây giờ mới tận mặt, chạm tay làm sao quên được những cảm giác ấy chứ.
Mãi đến hơn ba giờ chiều chúng tôi mới tới được thị trấn Si Ma Cai. Đó là một thị trấn nhỏ nằm trên con đường vành đai biên giới của huyện Mường Khương. Xung quanh thị trấn là núi rừng chập chùng. Thị trấn Si Ma Cai đang trong thời kỳ phát triển. Tôi thấy có rất nhiều nhà mới cất đang dở dang. Các con đường xung quanh thị trấn cũng đang được thi công. Đường từ đây tới Bắc Hà khoảng ba lăm km và đã trải nhựa, nhưng để tránh gặp sự cố, chúng tôi chỉ ghé lại Si Ma Cai uống ly nước rồi lại tiếp tục đi Bắc Hà.
Con đường đến Bắc Hà có vẽ thuận lợi hơn do mặt đường êm mặc dù cũng lắm dốc lắm đèo. Khoảng năm giờ chiều chúng tôi đến thị trấn Bắc Hà. Thị trấn khá bằng phẳng và rộng rải. Phố xá thoáng đãng và không ồn ào náo nhiệt như Sa Pa. Chợ phiên Bắc Hà họp vào ngày chủ nhật hàng tuần vốn nổi tiếng từ lâu, nên hàng tuần cũng có rất nhiều du khách nước ngoài đến tham quan. Tuy nhiên trong buổi chiều ngày thứ bảy này, không khí sinh hoạt của thị trấn cũng khá bình lặng. Từ chỗ nghỉ, chúng tôi phải đi bộ qua mấy con phố để đến được quán ăn của một bà chủ trung niên vừa goá chồng. Bửa cơm chiều lại tiếp tục chai rượu ngô còn dở lúc trưa với nhà thơ Pờ Sảo Mìn. Chiều nay ông vui và nói chuyện rất nhiều. Bửa cơm chiều thật sự rôm rả hơn khi bà chủ nhà hàng ngồi xuống uống cùng nhà thơ Trịnh Bửu Hoài ly rượu đặc sản.
Chúng tôi chia tay với nhà thơ Pờ Sảo Mìn khi trời cũng vừa nhá nhem tối. Ông bảo lâu lâu mới tới Bắc Hà, cũng phải đi thăm hỏi anh em, chúc đoàn chúng tôi vui vẽ và thu hoạch tốt. Buổi tối ở Bắc Hà yên tỉnh quá. Tôi và anh chàng hoạ sỹ trẻ Quốc Nam ngồi uống cà phê một ở quán ngay ngã ba đường nhưng lại được một không gian vô cùng yên tỉnh. Suốt buổi chúng tôi ngồi cũng chỉ có vài người qua lại. Buổi tối thật yên bình trên thị trấn vùng cao này.
Buổi sáng trước khi ra chợ Phiên, đoàn chúng tôi ghé thăm dinh thự của vua Mèo Hoàng A Tưởng, một dinh thự rộng lớn và kiên cố được xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Dinh thự đã được trùng tu, sửa chữa, đẹp và sang trọng. Dinh thự đẹp thật. Nhưng tôi lại thấy nó cứ làm sao ấy, nó mới quá so với tuổi gần một trăm của nó. Công tác trùng tu các di tích báo chí đã nói nhiều, làm mới như thế này thì thà đừng làm còn hơn. Dinh thự được xây dựng theo kiến trúc cổ Châu Âu do một kiến trúc Sư người pháp thiết kế, và cũng đã được các thầy địa lý Tàu xem xét phong thuỷ rất kĩ. Đứng ở chỗ nào cũng có gió mát lồng lộng. Hoàng A Tưởng là con trai của Hoàng Yên Chao, nguyên là Châu Uý Bắc Hà của chính quyền Pháp. Người hướng dẫn viên cho biết Khi Hoàng A Tưởng lên thay cha mình, ông ta đã vơ vét của cải để phục vụ cuộc sống riêng và xây dinh thự cho hai bà vợ. Năm 1953 bộ đội đã phải mất cả tuần lễ và cuối cùng phải dùng đến súng Bazoka mới tấn công vào trong được. Tuy nhiên Hoàng A Tưởng cùng gia đình đã theo đường hầm trốn lên núi.Ở đó máy bay của người Pháp đã đưa gia đình ông sang Paris, rồi sau đó đưa về an trí ở Lâm Đồng cho đến lúc ông mất. Một dinh thự hoành tráng thế này mà xuất hiện giữa núi rừng Tây Bắc cách đây gần 100 năm, quả là vào thời ấy nó như một chốn cung đình. Tôi thử hình dung cảnh rộn rịp người ra kẻ vào, hình dung cảnh những cô gái Thái múa xoè cho vợ chồng quan tri châu và quan khách thưởng ngoạn uống rượu. Tất cả giờ chỉ còn lại một căn nhà câm lặng được sơn phết màu mè. Được mất gì ở chốn nhân gian, rồi cũng chỉ là tử sanh, là cát bụi. Ở một gian phía trái của tầng trệt, tôi bắt gặp một bảo tàng dân tộc nho nhỏ với những manicanh châu Âu mũi cao chân dài lại mặc đồ dân tộc. Bảo tồn thế này thì hết biết phải phát biểu gì rồi.
Khoảng 9 giờ sáng thì chợ Phiên Bắc Hà bắt đầu đông người đi họp chợ. Người dân tộc đến chợ từng tốp từng tốp từ các ngã đường. Con phố trước đường vào khu vực chợ đông nghịch người là người với đủ màu sắc. Có quá nhiều du khách ngoại quốc đến tham quan chợ Bắc Hà trong ngày họp chợ Phiên . Một đoạn đường dài hầu hết là các gian hàng bán đồ lưu niệm cho du khách. Khu chợ chính nằm ở phía trong trên một bãi đất cao. Đây mới là khu chợ chính của người dân tộc. Cũng vẫn những gian hàng đồ tiêu dùng, hoặc các đặc sản của rừng từ cây thuốc đến giò lan...Trong khi phụ nữ đi mua sắm hoặc bán hàng của mình, thì cánh đàn ông tập trung lại mấy hàng bán thuốc lào rít khói mù mịt. Rượu cũng là thứ mà cánh đàn ông quan tâm, ngoài việc uống say bí tỉ tại chợ phiên rồi, họ còn mua về trữ trong những ngày không đi chợ. So với chợ Pha Long thì chợ Phiên Bắc Hà thật sự hơn hẳn về quy mô,về lượng người họp chợ và cũng không náo nhiệt bằng.Thế nhưng tôi thích Chợ Pha Long hơn. Cũng trang phục rực rỡ cũng vẫn những hoạt động mua bán, nhậu nhẹt. Nhưng ở Bắc Hà, chợ Phiên đã bị du lịch hoá, nó không còn được cái đặc thù riêng biệt của một phiên chợ truyền thống. Ở Pha Long, chợ họp giữa núi rừng, người ta sinh hoạt, trao đổi trong cái không gian quen thuộc và không hề bị dòm ngó bởi những ánh mắt hiếu kỳ của khách du lịch. Ở đây chỉ riêng hoạt động mua bán đồ kỷ niệm cho du khách cũng đã làm mất đi cái tự nhiên của một phiên chợ vùng cao. Những bộ trang phục dân tộc nhiều màu sắc xuất hiện ở phố có gì đó làm chúng tôi thấy có gì đó hơi khập khiễng. Ở Pha Long những bộ trang phục ấy xuất hiện giữa núi rừng như một sự điểm xuyết cho khung cảnh, cho không gian bao la rộng lớn của đại ngàn. Còn ở đây, giữa những phố xá, giữa những bức tường chật hẹp, những bộ trang phục ấy, dường như không ăn khớp với nhau.
Chúng tôi xem chợ đến cuối buổi trưa, vẫn chưa thấy anh chàng nào say lăn quay ra cả. Hôm nay phải về Tam Đảo, nên chúng tôi từ giã chợ Phiên Bắc Hà khi buổi họp chợ đến hồi đông đảo nhất. Cũng nuối tiếc không ở được ở lại đến khi tan chợ. Chúng tôi ghé lại một nhà hàng gần chợ để thưởng thức món Thắng Cố nấu bằng lòng ngựa. Có lẽ do chúng tôi ăn sáng trể nên món thắng cố mà nhà hàng nấu rất ngon cũng bị bỏ lại rất nhiều trên bàn ăn khi chúng tôi rời đi.
Trên đường về, chúng tôi khu tưởng niệm Nguyễn Thái Học, một chí sĩ yêu nước nổi tiếng với câu nói " không thành danh cũng thành nhân". Ông và các bạn của mình được yên nghỉ trong công viên Yên Hoà,tỉnh Yên Bái. Ông đã hiên ngang ra pháp trường với nụ cười trên môi và những lời thơ sang sảng. Giờ đây họ nằm kia,nhìn thu yên giấc.Chắc họ không băn khoăn về những phiền toái của cuộc sống hôm nay. Trước khi về đến Tam Đảo, chúng tôi cũng ghé qua thăm đền Hùng khi đến địa phận tỉnh Phú Thọ. Đã hơn năm giờ chiều nên chúng tôi chỉ leo lên đền Hạ tham quan, chụp ảnh một tí rồi về thẳng trại sáng tác Tam Đảo.
Ngày mai, trại sẽ tổng kết và sáng mốt chúng tôi sẽ lại xuôi về phương Nam. Phía trước hành trình vẫn còn nhiều điều mới lạ vì trên đường về chúng tôi sẽ vào Nam bằng đường Hồ Chí Minh để ghé thăm các tỉnh Tây Nguyên. Nhưng với tôi ấn tượng để lại sâu đậm nhất trong chuyến đi lần này có lẽ là những ngày Tây Bắc. Một vùng đất biên quan tổ quốc hoàn toàn khác biệt địa hình miền Tây Nam bộ, nhưng tôi lại bắt gặp cái phóng khoáng, cái hào sảng và chân tình của những con người chốn đại ngàn xanh thẳm. Mai về An Giang, vùng đồng bằng kênh rạch với tiếng mái chèo khua nước ven sông. Chắc sẽ nhớ nhiều những ngày Tây Bắc. Nhớ đồi núi chập chùng mây trắng, nhớ chén rượu ngô của những người bạn mới quen. Tôi thầm hẹn với Tây bắc một ngày trở lại, ngồi uống rượu ngô nghe séo mèo trầm ấm giữa núi rừng.
Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2010
Hành trình xuyên việt 5 (tiếp theo)

Phía dưới con đường đèo, thung lũng với ruộng bậc thang và những bản làngthấp thoáng, đẹp như một bức tranh.

Rời Sa Pa chúng tôi tiến thẳng về phía Mường Khương, một huyện của Lào Cai mà huyện lị của nó là thị trấn Mường Khương cách SaPa hơn 30km. Mục tiêu của đoàn hôm nay là vượt Mường Khương, Pha Long, Si Ma Cai để đến được thị trấn Bắc Hà. Đêm nay chúng tôi sẽ ngủ ở Bác hà để sáng mai đón chợ phiên thưởng thức món thắng cố lâu nay chỉ nghe nói. Buổi sáng ở vùng cao không khí thật mát mẽ. Ở trên độ cao trung bình từ 1000 đến 1400 mét, tôi tưởng chỉ có núi cao và vực sâu, thế nhưng xe chúng tôi đi qua rất nhiều làng xóm xanh màu cây lúa trông như những mảnh ruộng dưới đồng bằng. Bình nguyên trãi dài với những xóm làng trù phú ẩn mình sau những vườn cây, luỹ tre hay vạt rừng mới trồng. Điện đã phủ khắp các thôn làng mà đoàn xe chúng tôi đi qua. Đi giữa cái bạt ngàn của màu xanh núi rừng với chập chùng đường dốc phủ đầy mây trắng, tự dưng tôi có cảm giác như đang bay bồng bềnh giữa trời cao lộng gió.
Chúng tôi tranh thủ đến Mường khương sớm để ăn sáng ở đó, anh Hoài bảo đã có một người bạn thơ chờ ở đấy. Hơn 8 giờ sáng chúng tôi đã có mặt ở thị trấn Mường Khương. Người đón chúng tôi là nhà thơ Pờ Sảo Mìn, người Pa-Dí, hội viên hội VHNT Lào cai. Hôm qua, trong buổi tiệc, khi nghe nhà văn Đoàn Hữu Nam, phó chủ tịch hội VHNT Lào Cai đọc hai câu thơ của ông tôi đã rất thích, và hình dung Pờ Sảo Mìn phải là một gã nhà thơ đẹp trai, phong lưu lãng tử và luôn được phụ nữ chú ý.
Rượu ngon để uống, gái đẹp để ngắm nhìn.
Ăn sáng xong, ông giục chúng tôi vào nhà ông chơi, ăn một bửa cơm với gia đình. Căn nhà xây ba gian lợp ngói đỏ nằm khiêm tốn giữa xung quanh là ao, chuồng, vườn rau. Vừa bước chân vào nhà, ông đã oang oang gọi vợ châm trà, pha cà phê đãi khách. Gian giữa của căn nhà,nơi dùng tiếp khách được bài trí gọn gàn và giản dị. Phía trái một giá sách chất đầy và chiếc máy vi tính chiếm trọn một góc. Giữa nhà là bàn thở tổ tiên với những bức hoành chữ hán treo trang trọng. Còn ở phía đối diện tôi bắt gặp hai bức ký hoạ chân dung của nhà thơ mà trong đó tôi nhận ra một bức của nhà văn Trần Nhương. Ông giới thiệu vợ ông với chúng tôi trong lúc bà pha trà, châm cà phê mời chúng tôi. Bà là một cựu giáo chức người Nùng, gặp ông một chàng trai Pa Dí rồi yêu nhau, trở thành bạn đời. Pờ Sảo Mìn là người đi nhiều, nghe đâu ông có đến 10 năm học ở Tiêp khắc, rồi ở Nga. Bao nhiêu năm ấy, dù thật khó khăn gian khổ, nhưng cô giáo Nùng, vẫn một lòng như đất đai, gánh bao nhiêu oằn nặng, nuôi con ăn học thành tài. Gia đình Ông là gia đình duy nhất ở Mường Khương có 4 bằng cử nhân. Vừa pha cà phê, bà vui vẽ hỏi thăm chúng tôi đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông bà nhìn nhau, tôi nhận ra trong ánh mắt ấy một sự cảm thông gắn bó và thấu hiểu giữa hai người bạn đời. Xong tuần trà, ông dắt chúng tôi đi tham qua quanh nhà giới thiệu vườn rau, ao cá, chuồng gà. Ông bảo tất cả đều có sẵn. Cá thịt, rau củ đều do nhà tự trồng và rất mong đoàn ăn cùng gia đình ông bửa cơm. Từ chối bửa cơm gia đình của nhà thơ Pờ Sảo Mìn chúng tôi cũng thật tiếc, vậy là bỏ lở một dịp được hàn huyên, thù tạc trong căn nhà của một nhà thơ tài hoa mà giản dị của đất Lào Cai. Nhưng hành trình đến Bắc Hà còn dài nên chúng tôi đành lên đường sau khi chụp ảnh lưu niệm cùng với vợ chồng nhà thơ.
Chúng tôi rời Mường Khương sau khi được nhà thơ Pờ Sảo Mìn đưa đi tham quan một vòng chợ . Hôm nay ông sẽ cùng theo và làm hướng dẫn cho chúng đến Bắc Hà. Từ Mường khương đến Bắc Hà chỉ sắp sỉ 90km, nhưng tất cả là đường đèo ở trên độ cao trung bình từ 1000 đến 1400m, nên có người bản địa trong đoàn khi có gặp sự cố cũng sẽ dể giải quyết. Chúng tôi rời Mường Khương trong trạng thái ngà say của cốc rượu ngô buổi sớm. Nắng đã lên. Mặt trời xuyên qua đám mây trên đỉnh núi rồi chiếu xuống con đường ngoằn ngoèo ôm sát vách núi, tạo thành những đoá hoa ánh sáng nhảy nhót trên đường trước xe chúng tôi. Phía dưới thung lũng Lủ-Pâu, từng vạt nắng từ trên cao đổ xuống làm ánh lên những thửa ruộng bậc thang đang hồi gieo mạ. Những con đường nhỏ ngoằn ngòeo, những bản làng ẩn hiện trong màu xanh của lúa, của rừng. Ở phía xa xa trên triền của một đám ruộng bậc thang, một sợi khói lãng đãng bay lên hoà vào mây trời. Thung lũng hiện ra đẹp như một bức tranh. Một bức tranh sống động do chính bàn tay con người với trí thông minh và óc sáng tạo đã vẽ lên trên quê hương mình. Từng ngày, từng ngày đã có bao nhiêu mồ hôi và có thể cả máu đã đổ xuống, để cuộc sống được tiếp tục xanh tươi. Không chỉ mang lại lương thực, những đám ruộng bậc thang của vùng Tây Bắc còn là một kỳ quan, một bài ca thật đẹp về những con người yêu thiên nhiên, yêu lao động. Ngồi cạnh bên tôi, nhà thơ Pờ Sảo Mìn cũng trầm ngâm nhìn xuống thung lũng. Một chút rượu ngô, những bằng hữu từ xa, chắc ăn cái cảnh cái tình của hôm nay cũng làm ông xúc động, dù đã quá quen với thiên nhiên quê mình. Cũng có thể ông đang hoài niệm về những cánh rừng, những dòng suối mà đôi chân mạnh mẽ của chàng trai Pa-Dí năm nào đã vượt qua để tìm cô giáo Nùng cắm bản. Tôi con suối thì đi, Em đất đai ở lại. Câu thơ giản dị nhưng sâu sắc và nghĩa tình như chính con người ông. Tự dưng tôi buộc miệng :- Kỳ công thế này thì phải giữ gìn từng biên cương của tổ quốc. Pờ Sảo Mìn như chợt quay về với thực tại, ông nhìn tôi , nhìn xuống thung lũng, ánh mắt kiên quyết rồi nói chậm rải : Dứt khoát phải giữ từng tất đất. Rồi ông ngó ra ngoài cửa xe nơi những vạt rừng non đang xanh mơn mởn- Ngày xưa, ở ngay đây thôi có rất nhiều cây to cả người ôm, đếm không xuể, bị đốn hạ cả rồi. Ông tặc lưởi - thôi để con cháu mình chúng nó giỏi, chúng nó trồng lại.
Chỉ một thoáng ông lai vui vẽ, ồn ào làm cho không khí trên xe rôm rả trở lại. Từ đây đến Pha Long, xe phải qua chín con đèo nữa đấy. Ông nói oang oang với anh chàng tài xế phía trước rồi quay sang chúng tôi cười tươi rói. Ông nói về những làng bản, giải thích về những địa danh mà xe chúng tôi đi qua, về những ngày lửa đạn năm 1979. Ông trả lời tất cả các câu hỏi của anh em văn nghệ sỹ An Giang bằng một hóm hỉnh làm cả xe thỉnh thoảng cười ngặt nghẽo nhất là anh chàng hoạ sỹ trẻ Quốc Nam.- Các cậu thử nghỉ xem, giặc thì đánh rất gấp rồi, phía sau lưng thì địu thằng con trai, còn trước ngực lại phải đeo cái bình lặc lè chục lít rượu ngô. Con và rượu, cả hai thứ đều không thể bỏ lại thứ nào. Vậy mà tớ cũng đủ sức băng rừng gửi con lánh nạn rồi dọt về cơ quan chuẩn bị...chiến đấu. Ông cười hề hề dường như kể chuyện của ai đó.
Chúng tôi đến Pha Long, một xã của huyện Mường Khương, khi phiên chợ đang hồi tấp nập nhất. Được nhóm trên một khu đất trống, xung quanh là ruộng lúa, núi rừng, chợ Pha Long nhìn toàn cảnh, vẫn còn giữ được nếp sinh hoạt của một khu chợ miền sơn cước. Nếu nhìn từ trên cao xuống, khu chợ giống như một mảng màu nóng bất chợt hiện ra giữa núi rùng. Các thứ sản vật, hàng hoá được bày bán ngay trên bãi cỏ, hoặc trong các túp lều hay trong tán dù dựng tạm bợ. Đây không phải là tuyến du lịch nên chợ phiên Pha Long vẫn còn những nét đặc thù một khu chợ dân tộc vùng Tây Bắc. Không thấy khách du lịch, nhất là không có bóng dáng của du khách ngoại quốc. Đồng bào dân tộc đến chợ chủ yếu để mua sắm, trao đổi hoặc bán các sản vật của rừng. Có đủ cả từ dưa chuột, su hào, tỏi ,quả ớt,trái cà, quả trứng.....đến miếng thổ cẩm, đôi dép nhựa....những mặt hàng phục vụ cho sinh hoạt thiết yếu hàng ngày đều có bán ở đây. Ở khu đất trống cạnh bên, là khu chợ gia súc với những chú heo, chú bò được cột vào những chiếc cọc đóng tạm trên bãi cỏ. Cạnh bên, chủ của chúng, những người đàn ông dân tộc đang phì phèo điếu thuốc lào, rôm rả buôn chuyện. Ở Sa Pa, người dân tộc đến chợ chủ yếu để bán đồ lưu niệm cho khách du lịch, và giá cả thì...Tây lắm. Cái nếp sinh hoạt bao đời nay bị phá vở bởi lợi nhuận và những hệ quả của việc phát triển du lịch. Đành rằng cũng cần phải quảng bá du lịch, giới thiệu hình ảnh của một Việt Nam đa dạng văn hoá với bạn bè năm châu. Nhưng việc bảo tồn các giá trị truyền thống, giữ gìn những nề nếp sinh hoạt mang tính đặc thù cũng là điều không thể không nghỉ đến. Có vẻ như hai vấn đề này khó mà thoả hiệp. Chẳng phải ở Hội An đa số phố cổ chỉ là diện mạo bên ngoài. Còn không gian của chúng chủ yếu là dùng để làm cửa hàng buôn bán. Cái không gian sinh hoạt thực sự của nhà cổ Hội An rồi sẽ còn đựoc bao nhiêu. Những phiên chợ phiên vùng cao, liệu một lúc nào đó chủ yếu chỉ bán đồ lưu niệm cho khách du lịch.
Lần đầu được tham gia một phiên chợ vùng cao đầy màu sắc của trang phục, cả đoàn chúng tôi ai củng giở máy ảnh ra ghi lại hình ảnh làm tư liệu. Bửa cơm trưa hôm ấy ở chợ phiên Pha Long được thay bằng phở trong một hàng ăn ở khu ẩm thực của chợ. Cả chợ không có bán cơm. Nhà thơ Pơ Sảo Mìn gọi một nồi thịt chó bốc khói từ hàng thịt của một anh chàng lực lưỡng, rồi lôi rượu ngô mang từ Mường Khương ra bày lên bàn. Chẳng mấy khi anh em hạnh ngộ, hãy để rượu ngô hăm nóng tình nghĩa nhé. Ông cười sảng khoái khuôn mặt đầy những nếp hằn cụng ly với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài. Chúng tôi củng nâng ly chúc sức khoẻ ông. Câu chuyện của chúng tôi lại rôm rả về văn chương, về núi rừng, về nhân tình thế thái...Tôi uống không nhiều lắm, nhưng lại thấy như mình đã chếnh choáng men cay. Rượu ngô là một đặc sản của núi rừng Tây Bắc. Nó được ủ từ ngô và một số phụ liệu. Rượu được lấy trực tiếp khi đã lên men chứ không phải qua chưng cất như các loại rượu trong miền Nam. Nồng đô của rượu khá cao, uống vào cảm giác ấm nóng lan toả râm ran khắp cơ thể. Khu ẩm thực của chợ tuy chỉ hơn mươi hàng quán, nhưng cũng ồn ào náo nhiệt vì rất đông thực khách. Những người đàn ông dân tộc thoải mái chuyện trò bên bàn rượu với chiếc điếu cày luôn bốc khói. Những người phụ nữ tuy không uống rượu nhưng cũng rôm rả chuyện trò quanh bàn ăn. Tiếng cười nói, tiếng bát đĩa, tiếng chan chát chặt thịt của anh hàng thịt chó... tất cả hoà quyện vào nhau tạo thành một thứ âm thanh đặc thù chợ búa. Hớp một ngụm rượu ngô cay xé, thưởng thức món thịt chó được nấu ở vùng cao, ngồi giữa chợ uống rượu cùng các nhà thơ, làm sao lại có thể không say cơ chứ. Chỉ mới gặp ông sáng nay, đọc loáng thoáng vài bài thơ trong tập Bài ca đẹp nhất trần gian ông mới tặng, tôi đã thật sự thích và ngưỡng mộ ông. Giữa bao nhiêu bộn bề, ông ngồi đó hết sức giản dị với gương mặt rám màu thời gian và ly rượu trong đôi tay gân guốc. Trên những vết hằn thời gian ấy, bàn chân ông đã miệt dong ruổi như một kẻ hành hương tìm chân lý. Có lẽ chỉ có ông mới biết mình đã tìm thấy được gì qua năm năm táng ấy. Ông bình dị như đá núi, mà cũng sâu thẳm như đại ngàn Tây Bắc. Nhìn dáng dấp của ông tôi chợt nhớ đến một loài cây ở Phú Quốc, khi thu hoạch người ta đem bỏ cây gỗ ngoài mưa nắng, thời gian mưa gió sẽ làm phần thân gỗ mục rả những gì phải mục rả. Và phần còn lại là phần lõi gỗ đen bóng, cứng cáp vì đã chịu bao thử thách với thời gian sẽ được đưa vào sử dụng, mang lại cái đẹp cho đời. Cảm nhận cho lần gặp gở đầu tiên với Pờ Sảo Mìn, của tôi nói theo cách miền Tây là lõi không đấy. Bửa rượu ở chợ Pha Long chỉ có rượu ngô uống với thịt chó,nhưng thật sự với tôi nó thịnh soạn những nghĩa tình. Tôi thầm cảm ơn nhà Thơ Trịnh Bửu Hoài đã làm cầu nối để chúng tôi được gặp gở làm quen với những người bạn mới, những người sống và chết trên mảnh đất nghệ thuật lắm chông gai này.
Nếu không còn hành trình vượt Si Ma Cai để đến Bắc Hà trong hôm nay có lẽ bửa rượu sẽ còn kéo dài cho đến khi say bí tỉ. Đường đến Si Ma Cai hiểm trở, có những đoạn đèo chưa trãi nhựa nên chúng tôi lại lên đường khi rượu ngô chỉ mới làm tất cả ngà say. Chiều ở Bắc hà nhé Bửu Hoài, đóng nút chai rượu lại, ông nhìn chúng tôi như một ước hẹn. Ôi Pờ Sảo Mìn.
(phần 3- Chập chùng dốc núi)


























